Tin chi tiết

    Suy tĩnh mạch chi dưới    (05/06/17)

  • Suy tĩnh mạch có thể sảy ra trên toàn bộ hệ thống tĩnh mạch, tuy nhiên bệnh chủ yếu xuất hiện ở hai chi dưới và tỉ lệ nữ mắc cao hơn nam. Bệnh không gây nguy hiểm chết người nhưng nếu không được điều trị sẽ dẫn đến những biến chứng nặng nề

    >> PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI

    Tĩnh mạch là các mạch đưa máu nghèo ôxy của cơ thể trở về tim. Có 3 loại tĩnh mạch ở các chi: tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da, tĩnh mạch sâu nằm trong các nhóm cơ, và tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên.

    Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có:

    - Lực đẩy từ động mạch, lực hút do tim co bóp;

    - Áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim;

    - Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân ("bơm cơ"), ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim;

    - Hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng.

    Khi hệ thống van một chiều của tĩnh mạch bị suy, sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính.

    Suy tĩnh mạch mạn tính được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu nghèo ôxy trở về tim. Bệnh này rất thường gặp ở chi dưới, xảy ra ở khoảng 10 - 35 % người lớn. Bệnh thường tiến triển chậm, không rầm rộ, ít nguy hiểm đến tính mạng nhưng trở ngại nhiều cho sinh hoạt và công việc hàng ngày, điều trị lâu dài và tốn kém nhất là khi có biến chứng.

    Theo PGS. TS. BS Nguyễn Hoài Nam: Chủ tịch Hội tĩnh mạch học TP HCM, Cố vấn Bệnh viện quốc tế Minh Anh

    Nguyên nhân của suy tĩnh mạch

    - Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.

    - Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.

    - Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu hoặc nông.

    - Khiếm khuyết van do bẩm sinh.

    - Nhiều yếu tố khác: nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay thừa cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, sử dụng thuốc ngừa thai, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, tuổi trên 50...

    Khi bị suy tĩnh mạch chi dưới, bệnh sẽ có những triệu chứng và tiến triển như sau:

    Bệnh nhân có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.

    - Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.

    - Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.

    - Các triệu chứng thường nặng lên về chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc, và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.

    Dãn mao mạch và dãn các tĩnh mạch nông  chân

    Có 3 loại dãn tĩnh mạch nông

    - Dãn thân tĩnh mạch

    - Dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện.

    - Dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới.

    Các van bên trong tĩnh mạch dãn bị suy (mất chức năng).

    Viêm tĩnh mạch huyết khối

    Là tình trạng sưng viêm của các tĩnh mạch nông hoặc sâu gây ra bởi cục máu đông. Gặp ở bệnh nhân bị các bệnh dễ đưa đến huyết khối, bệnh nặng, mổ lớn, ngồi lâu (nghề nghiệp, đi máy bay đường dài)...

    Khi bị huyết khối tĩnh mạch nông: tĩnh mạch nổi hẳn lên, sờ ấm và cứng dọc theo tĩnh mạch, rất đau, có thể kèm đỏ da.

    Khi bị huyết khối tĩnh mạch sâu: gây tắc và ứ trệ, chân nóng, đau, sưng đỏ, có thể bị chảy máu, ngứa, đau nhức nhối, nhiễm trùng thứ phát.

    Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp.

    Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.

    Loạn dưỡng da chân

    Do rối loạn biến dưỡng: da phù nề, dày lên, có thể dẫn đến tróc vảy, chảy nước và chàm da, thay đổi màu sắc, sạm da và xơ cứng bì.   

    Loét cẳng chân

    Ở đoạn thấp, là biến chứng ở giai đoạn muộn nhất gây đau đớn và điều trị rất khó khăn. Ban đầu là loét nông, để lâu loét sẽ ăn sâu dần và rộng ra, dễ bội nhiễm, có thể tái đi tái lại nhiều lần.

    Các xét nghiệm sau đây sẽ tiến hành để chẩn đoán xác định bệnh:

    - Xét nghiệm đông máu.

    - Siêu âm Duplex đo tốc độ dòng máu và xem xét cấu trúc các tĩnh mạch chân.

    - Chụp X-quang tĩnh mạch để xem xét về giải phẫu của tĩnh mạch.

    >> 10 CÂU HỎI VỀ BỆNH SUY TĨNH MẠCH
    >> ĐIỀU TRỊ BỆNH SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI BẰNG SÓNG CAO TẦN TẠI VIỆT NAM
    >> BỆNH NHÂN THỨ 1.000 ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH BẰNG SÓNG CAO TẦN
    >> SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH, MỘT BỆNH CẦN PHÁT HIỆN SỚM
    >> SUY TĨNH MẠCH LÀM GIẢM CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
    >> 10 CÂU HỎI VỀ BỆNH SUY TĨNH MẠCH (PHẦN 2)
    >> 10 CÂU HỎI VỀ BỆNH SUY TĨNH MẠCH (PHẦN CUỐI)
    >> DẶN DÒ BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT DÃN TĨNH MẠCH

    Điều trị

    Nội khoa

    - Thay đổi thói quen sinh hoạt và công việc hàng ngày.

    - Tùy trường hợp mà sử dụng các thuốc: giảm đau, kháng viêm, kháng sinh, chống đau, làm tan cục máu, làm bền thành mạch...

    Mang vớ áp lực: đeo liên tục ban ngày giúp khép các van tĩnh mạch bị hở làm hạn chế máu ứ trệ chảy ngược, giảm phù nề.

    Chích xơ: áp dụng cho các dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới và khu trú.

    Phẫu thuật: lấy bỏ các búi tĩnh mạch dãn, lột tĩnh mạch, sửa van, tạo hình tĩnh mạch qua da...

    Can thiệp nội mạch bằng sóng cao tần hay laser: là kỹ thuật mới điều trị dãn tĩnh mạch, ít đau, mau hồi phục và đảm bảo thẩm mỹ, thay cho phẫu thuật lột tĩnh mạch kinh điển trước đây.

    Suy tĩnh mạch mạn tính diễn biến mạn tính lâu dài theo thời gian và tuổi tác.

    Cần tập trung chữa trị tốt, có kế hoạch theo dõi tái khám định kỳ khi bệnh còn ở các giai đoạn sớm.

    Điều trị bằng thuốc và vớ áp lực ở giai đoạn dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện hay dạng lưới.

    Ở giai đoạn dãn thân tĩnh mạch, cần đến phẫu thuật cắt bỏ hoặc can thiệp nội mạch phối hợp với điều trị nội khoa.

    Cần thay đổi thói quen làm việc và sinh hoạt, tránh đứng lâu hoặc ngồi bất động kéo dài; khi đi ô tô hay máy bay đường dài thì phải gấp duỗi chân từng lúc cho máu lưu thông, uống nhiều nước, mang tất dài hỗ trợ; giảm cân khi dư thừa; dùng thuốc để phòng huyết khôi tĩnh mạch sâu khi có chỉ định.

    Các tổn thương van tĩnh mạch mạn tính tuy không thể hồi phục, nhưng nếu điều trị tốt, người bệnh vẫn có thể làm việc sinh hoạt bình thường.

    Hoàng Thao tổng hợp

Ý kiến của bạn về bài viết này
Họ tên : (*)   Email : (*)
. Telex VNI VIQR Tắt bộ gõ
(*) Nhập mã bảo vệ :

Hỗ trợ trực tuyến
Xem BMI của bạn
Chiều cao: cm
Cân nặng: kg
 
BMI của bạn:

BMI < 18.5 : Bạn nhẹ cân
18.5 < BMI < 25 : Bạn bình thường
25 < BMI < 30 : Bạn thừa cân
30 < BMI < 35 : Bạn bị béo phì ( độ 1 )
35 < BMI < 40 : Bạn bị béo phì ( độ 2 )
BMI > 40 : Bạn quá béo phì

Lượng Kalo theo độ tuổi
Giới tính:
Chiều cao: cm
Cân nặng: kg
Tuổi:  
 
Bạn cần khoảng kcal mỗi ngày
Thăm dò ý kiến
Quý khách đánh giá thế nào về thái độ 
phục của NV y tế tại BVQT Minh Anh ?
Thân thiện, nhiệt tình
Chấp nhận được
Chưa tốt
Đang online : 22
Tổng luợt truy cập : 2335046

thiet ke nha